LTS: Trong cuộc chiến bảo vệ tự do cho miền Nam, có rất nhiều anh hùng đã hi sinh hoặc tuẫn tiết cho quê hương dân tộc. Nếu chúng ta từng thương tiếc những Nguyễn đình Bảo, Nguyễn văn Đương, Lê minh Hằng ...
đã anh dũng nằm xuống tại chiến trường thì chúng ta cũng tự hào với những vị thần tướng tuẫn tiết Nguyễn khoa Nam, Lê văn Hưng,
Trần văn Hai, Lê nguyên Vĩ, Nguyễn văn Phú, Trung tá CSQG Lê văn
Long... Ngoài ra, chúng ta còn kính phục nhiều nhiều quân cán chính đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng và đã hi sinh oanh liệt như Hồ Ngọc Cẩn, một số chiến sỹ Dù trại Hoàng hoa Thám...
và 28 nghĩa quân vô danh trong câu chuyện bi hùng thương tâm dưới đây của bạn Nguyên
Trần. Hi vọng đó cũng là một bổ túc cho sử liệu của những người đã hi sinh trong cuộc chiến.
oOo
10:20 sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975, khi Tướng Dương văn Minh ra lệnh buông súng chờ đầu hàng Việt Cộng thì xã trưởng Tăng văn Tép biết rằng cả một dãy Trời Đất mênh mông này đã không còn chỗ cho mình dung thân.
“Trời ơi! Sao lại đầu hàng? Tụi tui dư sức chơi với tụi nó mà.
Cỡ nào cũng xả láng luôn” Vài giọt lệ lăn dài trên đôi má đen sạm phong sương rắn rỏi.
Ngược dòng thời gian hơn 25 năm về trước, tại làngAn Quảng Hữu, quận Trà Cú,
tỉnh Trà Vinh,
có chàng thanh niên
Tăng văn Tép ở lứa tuổi tam thập nhi lập sống hạnh phúc vui vầy cùng vợ và 2 con. Là một nông dân chất phác hiền lành, siêng năng chăm chỉ, Tép được mọi người quý mến. Ngoài ra,Tép giỏi việc đồng áng nên chỉ với 20 công
đất nhà, gia đình chàng cũng có của ăn của để. Những tưởng cuộc sống êm đềm cứ thế mà trôi như cuộc đời chàng thanh niên bình dị thật thà nhưng đến một hôm một biến cố thương tâm xảy ra làm thay đổi cả nhân sinh quan của Tép.
Số là chú Xuân, người hàng xóm của Tép là tài xế vừa là chủ chiếc xe đò Vĩnh Hiệp chở khách lên xuống từ Trà Cú lên tỉnh. Vào một sáng sớm, xe chú Xuân chạy tài đầu chở đầy hành khách lên Trà Vinh. Tới Đa Lộc (Trốt) thì oan nghiệt thay, xe cán
phải trái mìn của bọn Việt Minh (mồ ma của tụi Việt Cộng) nổ tung lên. Chú Xuân cùng
với 30 hành khách chết không toàn thây, còn 5 người khác may mắn hơn
chỉ... bị cụt tay chân và mù mắt. Tin tức thê thảm nầy một dạo gây rúng động chẳng những dân Trà
Vinh mà còn cả nước. Tép thấy thương xót chú Xuân vô cùng, là một người vui tính mau mắn, hay giúp đỡ bà con chòm xóm, chú Xuân được cảm tình cả làng.
Chính vì thế, Tép đã bỏ công mấy ngày làm ruộng để phụ giúp gia đình chú trong việc ma
chay. Nhìn thiếm Xuân với 7 đứa con nheo nhóc, đầu chít khăn
tang, khóc kể thảm thương, Tép thấy lòng quặn đau và nhuốm lên nỗi căm thù lũ người tự xưng là Việt Minh với chiêu bàì giải phóng quê hương.
Đúng là quân giải phóng, giải phóng sinh mạng người dân vô tội.
Nỗi đau thương của cả xóm chưa nguôi thì hơn một tháng sau, vào lúc nửa đêm, mấy thằng ác ôn côn đồ võ trang tận răng đến gõ cửa nhà thiếm Xuân rồi bắt cả nhà đứng nghe chúng đọc quyết nghị của Ủy ban nhân dân cách mạng làng An Quãng
Hữu: Trái mìn đó là tài sản của nhân dân ta gài để tiêu diệt bọn xâm lăng Pháp và bè lũ Việt
gian, thế mà người lái Trương văn Xuân đã cán phải trái mìn đó, đã phá hoại và làm hao hụt tài sản nhân dân. Lẽ ra tên Xuân phải bị trừng trị, nhưng y đã chết rồi nên Cách mạng khoan hồng cho, tuy vậy gia đình của tên Xuân phải nộp phạt 500$ để bồi thường trái mìn bằng không cách mạng sẽ xử lý nặng nề. (Nên nhớ là số tiền 500$ vào
thời buổi ấy có thể mua được cả chục lượng vàng)
Trời đất ơi! Từ thuở tạo thiên lập địa đến nay, ở trên thế giới này, có lẽ chỉ có cái
làng An Quãng Hữu mới xảy ra chuyện giết người tập thể xong rồi còn đòi gia đình nạn nhân trả tiền bồi thường. Bồi thường cái gì? Chắc bồi thường tiền công chúng đã đưa 31 nạn nhân vô tội về chầu tiên tổ sớm hơn hạn định.
Rất uất ức nhưng trước những họng súng mã tấu đằng đằng sát khí, thiếm Xuân đành nuốt hận móc ruột tượng ra 500$ để cúng bầy cô hồn Việt Minh. Thằng Việt Cộng
nhận tiền xong còn lên giọng đạo đức "Xệ Hết
Chỗ Nói": Đấy! Cắt Mạng làm việc rất nghiêm túc, đây là biên nhận giao cho bà giữ làm bằng. (Giữ tấm giấy lộn đó làm gì đây? Chắc chỉ đốt để trù ếm thằng Hồ chí Minh cho toàn gia nó chết thảm).
Khi được tin động trời này, lòng Tép sôi sụt căm thù: Tụi Việt Minh dã man tàn ác đến thế là cùng. Biến hận thù thành hành động,Tép quyết định lên Tỉnh đăng lính
Commandos vốn là hung thần của bọn Việt Minh lúc bấy giờ nhưng gia đình chòm xóm khuyên bảo rằng đi lính Commandos phải xa nhà cửa chi bằng vô lính
Bảo an (Gardes) vẫn chống Cộng mà được gần gũi gia đình bà con. Thấy lời khuyên hữu lý, Tép đầu quân vào Bảo an đoàn sau khi nhờ cậu em vợ trông coi ruộng vườn.
Thế là từ đó, cuộc đời chàng thanh niên Tăng văn Tép bước vào một khúc quanh mới: một chiến sỹ sát Cộng kiêu hùng. Anh tân binh Bảo an gan lì, lanh lợi tình nguyện
làm xạ thủ trung liên của Đại đội Bảo an 82 quận Trà Cú. Và cũng kể từ đó, bọn Việt Minh quả đã hết thời vì Tép đã quét vào đầu bọn chúng những tràng trung liên chí tử đưa không biết bao nhiêu thằng đi chầu tổ Mác Lê. Chỉ sau một thời gian ngắn, tiếng tăm
“Sát Cộng” của Tép nổi như cồn. Mỗi lần đơn vị Tép hành quân là địch
lẩn trốn như bầy chuột nhắt. Thấy Tép anh hùng thao lược như thế, vị quận trưởng Trần học Tốt rất quý mến. Rồi sẵn dịp ông chánh tổng Linh Xuân Thượng mất, quận trưởng liền đề bạt
với Tỉnh cho Tép lên thay.
Lúc bấy giờ, quận Trà Cú có 2 vị chánh tổng thật cừ khôi: chánh tổng Linh Xuân Thượng (phía An quảng Hữu) là
Tổng Tép và chánh tổng Linh Xuân Hạ (phía Đôn Châu) là
Tổng Sâm (tức Trần Bắc Trang là con vị quận trưởng đương nhiệm Trần học
Tốt). Với tài thao lược chỉ huy, kinh nghiệm chiến trường và nhất là nắm vững tình hình địa phương, địa lý địa hình (biết luôn cả gia phả cái thằng theo Việt Cộng), 2 ông đã quần bọn du kích nằm vùng nát tan như cái mền rách. Ngoài ra, cứ gặp con cháu bác là 2 tổng nhà ta phơ ngay chứ không có cái màn bắt giữ đầu hàng lôi thôi.
Đối với Tổng Tép, tự điển đánh giặc không có chữ “tù binh” mà chỉ có chữ “địch bỏ xác tại
trận”. Từ đó, bọn Việt Cộng mà nghe đến tên ông là muốn “té đái trong
quần”. Chúng lần lượt phải biến đi chỗ khác làm ăn, và quận Trà Cú một thời yên như bàn thạch.
Hai ông làm chánh tổng cho tới lúc cải tổ hành chánh xã thôn dưới thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, chức vụ chánh tổng bị dẹp bỏ, xã trưởng phải do dân bầu và
sau cùng thì hai ông đắc cử xã trưởng An quảng Hữu (Tổng Tép) và xã trưởng Đôn Châu (Tổng Sâm) để tiếp tục sứ mạng diệt Cộng giữ yên xóm làng.
Lúc nào hai ông cũng là con cưng của các vị quận trưởng tỉnh trưởng cho đến khi sẩy đàn tan nghé.
oOo
Chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, Tổng Tép tập họp tất cả nghĩa quân trong đồn
An Quảng Hữu, còn được 32 người, ông nhìn sâu vào mắt từng đứa em, giọng buồn bã:
- Qua cám ơn các em đã không nề hà nguy hiểm gian lao tận tình chiến đấu bên qua trong những ngày tháng qua để xã mình được yên bình cho bà con an tâm làm ăn. Nhưng nay thì vận nước đã hết, đại tướng Dương văn Minh đã ra lệnh đầu hàng Việt Cộng. Vậy các em hãy bỏ hết quân phục súng đạn lại mà trở về với gia đình vợ con. Riêng qua có cách giải quyết riêng,
qua với thằng con trai và con rễ nhất định tử thủ đồn nầy. Sống chết gì thì cũng tại nơi đây. Thôi vĩnh biệt mấy em và chúc các em cùng tất cả gia đình được may mắn bình yên”.
Là một anh hùng xem cái chết nhẹ tựa lông hồng nhưng trong giây phút quyết liệt
nầy, Tổng Tép không nén được xúc động, giọng ông nấc lên nghẹn ngào, mắt mờ đi với dòng lệ uất ức thương đau.
Cả đám nghĩa quân đều bồi hồi thương cảm vị chủ tướng mà không cầm được nước mắt. Trời ơi! Người anh cả đã từng nâng đỡ chiến đấu sát cánh bên họ nay quyết
cùng gia đình chọn con đường hi sinh vào phút cuối cho quê hương dân tộc.
Anh trưởng đồn nghĩa quân cất giọng run run bùi ngùi: “Thưa ông Tổng, từ bấy lâu nay, ông Tổng đã cùng vào sinh ra tử với tụi em, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi qua bao hiểm nguy thử thách. Đến giờ phút cuối cùng này, tụi em đành lòng nào bỏ mặc ông Tổng dưới tay quân thù bạo ác. Tụi em nhất định tử thủ cùng ông Tổng.”
Anh trưởng đồn vừa dứt lời thì hình như hồn thiêng sông núi, khí phách tiền nhân
linh thiêng dồn dập như làn sóng dâng cao ngất trời, uy dũng ào ạt và mọi người đồng thanh la to:
“Tử thủ cùng ông Tổng, tử thủ cùng ông Tổng”.
Tổng Tép bồi hồi xúc động nhìn từng thằng em một, những đứa em thủ túc một thời chết sống có nhau. Cho tới giây phút quyết liệt này, ông mới thấy ý nghĩa tuyệt vời của bốn chữ:
huynh đệ chi binh. Sau một thoáng yên lặng nghẹn ngào, ông lại nhìn thật sâu đám đàn em lần cuối cùng vì ông biết chắc rằng chỉ một chốc nữa thôi, làm gì còn có dịp để mà nhìn lại nhau. Cổ họng ông khô đắng, cõi lòng ông nát tan, ông bật lên tiếng nấc cuối cùng.
Vậy là ông đâu có cô đơn trong cuộc chiến ở giờ thứ 25 này.
Kiểm điểm lại tình hình quân số vũ khí thì có 4 nghĩa quân vì vợ đẻ con đau nên xin rút lui còn lại 26 người với ông Tổng cùng đứa con trai và
rể. Vũ khí thì có hai khẩu đại liên 30, hai cây M79, 41 súng M16 và hơn trăm quả lựu đạn, cấp số đạn dược đầy đủ.
Vậy là đủ chơi tới cùng.
Sáng ngày thứ năm 01 tháng 5 năm 1975, Việt Cộng kéo đến bao vây đồn An Quảng Hữu bằng toàn bộ du kích địa phương hơn 200 tên. Thoạt đầu, chúng bắt loa la to kêu gọi Tổng Tép và anh em nghĩa quân đầu hàng quân giải phóng để được Cách mạng và nhân dân khoan hồng, bằng chống lại thì chết cả lũ. Chúng cứ rao hàng cả nửa tiếng đồng hồ nhưng trong đồn vẫn án binh bất động. Tổng Tép còn lạ gì luận điệu tuyên truyền láo khoét và cũ rít nầy.
Sau một lúc kêu gào vô ích, bọn Việt Cộng mở màn cuộc tấn công bằng hàng chục quả B40 làm sập môt góc phòng tuyến rồi ào ạt xung phong. Đến bây giờ thì Tổng Tép và anh em nghĩa quân mới thực sự trả lời chúng bằng cách bấm nút mìn
Claymore thật ngoạn mục và bắn trả lại ác liệt. Hàng chục thằng địch phơi xác ngay vòng tuyến
kẽm gai đầu tiên. Bọn Việt Cộng lui quân rồi lại tiếp tục dùng B40 bắn sập thêm một góc đồn và mở đợt tấn công biển người lần thứ hai nhưng những đợt mưa đạn từ 2 khẩu đại liên 30 và những khẩu M16 của những nghĩa quân anh hùng đã chẻ tan xác lũ con cháu Hồ tặc. Tuy nhiên, lần nầy thì một phần ba quân số trong đồn đã thương vong.
Thấy khó nuốt được đồn nghĩa quân "cứng đầu" này,
bọn Việt Cộng gọi viện binh đến chiều tối thì tiểu đoàn 12 cơ động của sư đoàn 319 Cửu Long đến tăng viện.
Sau hàng loạt đại liên, B40 như trãi thảm cả đồn, chúng tiếp tục dùng chiến thuật biển người tấn công.
Nghĩa quân trong đồn đã đánh trả quyết liệt trong một trận chiến không cân xứng. Bọn Việt Cộng hết đợt này ngã đến đợt khác tiến lên, sau cùng đến 7 giờ sáng ngày thứ sáu 02 tháng 5 năm 1975, đồn An Quãng Hữu hoàn toàn thất thủ,
đưa Tổng Tép và 28 nghĩa quân vào lòng đất mẹ, lấy máu đào tô thắm một góc trời quê hương sau khi đã gởi hơn 200 tên V.C gian ác đi chầu tổ Mác Lê và Hồ tặc của chúng.
Lịch sử đã sang trang, trời tháng năm mưa lất phất như nhỏ lệ khóc thương 29 anh hùng bất khuất An Quảng Hữu đã vì nước bỏ mình, tiếng gió vi vu như khúc nhạc buồn đưa
tiễn những người con yêu của đất nước đi về vùng miên viễn.
Lịch sử thêm một lần nữa chứng minh rằng:
“Bạo lực có thể làm chúng ta nằm xuống nhưng không thể bắt chúng ta
cúi đầu”
Riêng về phần Tổng Sâm thì sau đó không lâu đã bị Việt Cộng bắt được và bị chúng xử tử tại phi trường Trà Vinh. Tại pháp trường, anh đã hiên ngang hô to nhiều lần câu: “Đả đảo Cộng Sản phi nhân tàn bạo, Hoan hô VNCH nhân bản tự do”
trước khi loạt đạn AK kết thúc cuộc đời người anh hùng chống Cộng. Đúng là:
Anh hùng tử chứ khí hùng nào tử.
NGUYÊN TRẦN
Lời cuối của người viết:
Về lời tuyên bố đầu hàng Việt Cộng của cố Tổng Thống Dương văn Minh trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975, nhiều người lên án ông đã dâng miền Nam cho Cộng Sản một cách quá dễ dàng thay vì hô hào tử thủ Sài Gòn và Vùng 4. Nhưng xét cho cạn thì thế nước đã tận cùng, ván cờ quốc tế đã kết thúc thì thử hỏi ông có thể làm gì khác hơn được.
Phải công bình mà nói rằng ông đã cứu thoát 5 triệu sinh linh đồng bào thủ đô lúc bấy giờ.
Vì với lực lượng hùng hậu và bản tính man rợ khát máu, bọn Việt Cộng chắc chắn sẽ làm cỏ thủ đô nếu ông Minh ra lệnh tử thủ. Và đến lúc đó thì đừng nói chi 5 triệu mà cho đến 50 triệu đi nữa, bọn chúng cũng sẵn sàng giết sạch và Sài Gòn thân yêu của chúng ta sẽ tắm trong biển máu lửa mà thôi. Cho nên ít ra trên phương diện này,
ông đã quyết định thức thời vì giữa các giải pháp đều tệ hại thì người lãnh đạo phải chọn cái ít tệ hại nhất.
Dù sao thì vận nước đã an bài dù là một sự an bài nghiệt ngã đắng cay.
Nguyên Trần
Uploaded:
May 5th, 2005