Home Up Political Address COMPETITION DEMOCRATIZATION Professor HUY (1) Name List Special Report Old Tombstone Tu V Tran ASSEMBLY 2004 E-PUBLICATION REPENTANCE EXODUS Favorites NIA

Professor Huy (2)


ANH BA HUY CƯỚI VỢ TRONG TRƯỜNG HỢP NÀO?
Ph
ần 1


·
Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa  
 


          Vào khoảng tháng 4 năm 1949, anh Huy mắc bịnh thương hàn.  Lúc bấy giờ, anh vừa được 25 tuổi, nhưng từ một năm qua, bút hiệu Ba Xạo của anh đă vang lừng trên toàn quốc.  Những bài Ba Xạo Phiếm Du Trong Làng Báo, Ba Xạo Du Xuân, Ba XạoTây Du Kư cùng các mục Tân Luận Ngữ, Truyện Phim, với giọng văn trào phúng duyên dáng đă khiến độc giả từ Nam chí Bắc say sưa theo dơi. Độc giả tán thưởng nhiều nhứt là nhóm trí thức Tinh Thần.

            Nguyên trong những năm 1946-49, lúc Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam, và Việt Minh sau khi triệt tiêu các lực lượng vơ trang không cộng sản đă độc quyền lănh đạo cuộc kháng chiến, th́ các nhà trí thức nầy đều chống Pháp, nhưng cũng không ưa cộng sản, nên giữ thái độ im lặng, đứng ngoài cuộc chiến.  Thỉnh thoảng đánh hơi gió lạ, họ tốc chăn lên quan sát nh́n, nhưng nếu chưa có ǵ biến chuyển th́ họ lại hạ chăn xuống, trùm tiếp. Đến đầu năm 1948, họ họp nhau lại, xuất bản tờ báo "Tinh Thần" để bày tỏ quan điểm chính trị của ḿnh.  Từ đó được gọi là nhóm Tinh Thần.  Nhóm nầy có bác sĩ Hồ Văn Nhựt, bác sĩ Tân Hàm Nghiệp, giáo sư Trần Văn Hương, giáo sư Ngô Ngọc Đối, kỹ sư Trần Văn Văn, kỹ sư Lê Văn Ngọ, vv...(Vào đầu thập niên 60, nhóm tinh thần nầy mở rộng ra với sự tham gia của một số nhơn sĩ Trung Bắc, họp tại nhà hàng Caravelle, nên từ lúc đó, được gọi là nhóm Caravelle).

            Ông Trần Văn Hương, lúc đó vừa ở chiến khu về, làm thơ kư đánh máy cho tiệm thuốcTranVanHuong.JPG (6604 bytes) tây "Pharmacie de la Gare" ngang nhà ga xe lửa Saigon , lương mỗi tháng 4.000 đồng.  Nguyên ông dược sĩ là học tṛ cũ của ông, muốn giúp ông hơn, nhưng ông không nhận; chỉ lấy đủ tiền trả tiền cơm tháng.  Và ông chỉ làm cho có chừng mà thôi, chớ không phải h́ hục như các nhơn viên khác.  Những lúc rảnh, ông thường đạp xe đến nơi chúng tôi ở để thảo luận về thời cuộc, về chuyện đời... Lúc bấy giờ chúng tôi đang ở tại căn phố lầu số 135 đường Marchaise (nay là đường Kư Con), gần khu dân sinh Saigon .  Thường trực ở đây có các anh Lư Bá Hỷ, Huỳnh Văn Tồn (các anh nầy, lúc bấy giờ chưa vào quân đội).  Nguyễn Văn Định (anh nầy vào thập niên 60 đă trấn nước chết 5 đứa con, trong một cơn điên loạn), Phạm Văn Mười (sau nầy là chủ nhà hàng "La Table du Mandarin" ở Paris, Pháp), các anh Đặng Văn Sự, Đặng Văn Cầu và tôi.  Bạn văng lai ở đây th́ rất nhiều, trong số, có anh Nguyễn Duy Xuân, anh Huy.  Lúc ấy, anh Huy đang làm thơ kư tại Thơ Viện Saigon, đường Lagrandière (Gia Long) và ở nội trú tại đây cùng với anh Lê Quang Nhơn, trong một căn pḥng nhỏ, cạnh cầu thang thơ viện.  Thỉnh thoảng, anh đến thăm và ở lại ngủ đêm với chúng tôi.

            Chúng tôi, lúc bấy giờ, đều trên dưới 25, xấp xỉ con ông, nên ông Hương xem chúng tôi như con cháu trong nhà, và chúng tôi tuy không có học với ông, nhưng đều xem ông như thầy ḿnh vậỵ  Trong bọn chúng tôi, ông Hương thương nhứt anh Hỷ (v́ anh Hỷ là đệ tử từ lâu của ông), và quư nhứt là anh Huy, v́ kiến thức và quan điểm chính trị của anh.  Hơn nữa, ông là độc giả thường xuyên của các tờ Đuốc Việt, Thanh Niên, những tuần báo do anh Huy bỉnh bút.  Có một lần, giữa câu chuyện, chúng tôi hỏi ông, giữa Pháp và cộng sản, ông chọn bên nào? Ông đáp ngay, không cần suy nhĩ: "Giữa bịnh thời khí và bịnh dịch hạch, không chọn bên nào đuợc cả."

            Không biết do ông Hương giới thiệu hay do ai đưa tin mà khi anh Huy vừa bị  bịnh thương hàn, bác sĩ Hồ Văn Nhựt  đánh tiếng đưa anh Huy đến cho ông đặc biệt điều trị.  Nguyên bác sĩ Hồ Văn Nhựt đă nổi tiếng từ lâu về sản khoa tại Saigon . Ông có một nhà bảo sanh tư tại góc đường Richaud va Pierre Flandin (nay là Nguyễn Đ́nh Chiểu và Bà Huyện Thanh Quan).  Khách của ông đều là người giàu có v́ ông xem mạch và thâu viện phí rất đắt.  Một bác sĩ chuyên về phụ sản mà chấp nhận chữa trị bịnh thương hàn th́ hẳn ông phải có cảm t́nh rất nồng hậu đối vớ anh Huy.

            Lúc bấy giờ (1949), chưa có thuốc Typhomycine để chữa trị nên thương hàn c̣n bị xem là bịnh hiểm nghèo, một trong tứ nan y.  Mắc bịnh thương hàn, kể như thập tử nhứt sanh, phảI đợi quá 21 ngày mới biết chắc sống hay chết, chớ không phải như sau nầy, chỉ uống một tuần là hết bịnh.

            Sau khi nhận chữa bịnh, bác sĩ Nhựt cho dọn một pḥng riêng rộng răi, khang trang, sau nhà bảo sanh cho anh Huy nằm, rồi mỗi ngày, sáng và chiềụ ông đích thân đến khám bịnh và chữa trị.  Và ông chữa miễn phí. 

            Khi biết tin anh Huy bị thương hàn, anh em trong đoàn thể đều rất lo.  Chừng biết được bác sĩ Nhựt tự nguyện chữa trị giùm, mọi người mới yên tâm.  Rồi cắt người canh gác cho anh, v́ đau bịnh thương hàn, phải có người túc trực đêm ngày bên cạnh.  Số anh em t́nh nguyện canh gác rất nhiều, đến mấy chục anh, nên mỗi phiên phải cắt đến 2 người mới hết.  Sắp đặt đâu đó xong xuôi, chúng tôi mới báo tin cho gia đ́nh anh hay.

            Chúng tôi đây là anh Phạm Văn Mười và tôi.  Nguyên anh Huy, anh Mười và tôi cùng quen biết nhau từ năm 1944, lúc chúng tôi c̣n làm thơ kư toà bố (Toà Hành Chánh Cần Thơ).  Sang năm  1945, anh Huy vào tổ chức rồi kết nạp anh Mười và tôi.  Kể từ  đó, chúng tôi không rời nhau, lúc ở Cần Thơ cũng như khi lên Saigon . Anh Mười và tôi đều xem nhau như một, không có ǵ là không nói với nhau, kể cả những chuyện tâm t́nh, nên chúng tôi thường đùa nhau là Quản Trọng Bảo Thúc của nhau; c̣n đối với anh Huy, chúng tôi lại xem vừa là bạn vừa là thầy, v́ chúng tôi học được rất nhiều ở anh.  Không những vậy, má anh Huy, má anh Mười và má tôi đều thân nhau, xem nhau như chị em trong nhà, và mấy bà cũng đều xem chúng tôi như con ḿnh vậy.

            Khi hay tin anh Huy bịnh, bác (má anh Huy), chị Sáu từ Biên Ḥa, đưa mấy cháu xuống thăm để chúng nó săn sóc cho anh.  Nhưng khi đến nơi, thấy mọi việc đều xếp đặt chu đáo rồi, bác bảo chị Sáu đưa các cháu về Biên Ḥa, v́ không cần đến các cháu nữa.  Ngày nào bác cũng vào thăm anh, vừa theo dơi bịnh t́nh, vừa tṛ chuyện với các anh em canh gác.   Bác thâm trầm, nhưng nhận xét rất tinh tế.  Suốt mấy ngày liền, bác để ư tới mấy anh em canh gác, toàn là người mới, không nguời nào đáo phiên trở lại.  Như vậy là phải có nhiều người chăm sóc anh Huy.  Lại c̣n có nhiều anh em lũ lượt đến thăm, hết tốp này đến tốp khác, mà nhiều nhứt là vào buổi chiều sau khi tan sở.  Người nào cũng đều thiết tha lo lắng cho anh Huy.  Và có lẽ bác đă đoán được phần nào công việc anh Huy đang làm, nên một hôm, lúc anh Huy đă giảm bịnh nhiều, bác gọi anh Mười và tôi đến gần rồi nói:

            "Cháu Mười! Cháu Nghĩa!  Bấy lâu nay, thằng Chín làm ǵ, nó đều giấu, không cho bác biết.  Nhưng mấy tuần nay, thấy anh em hết ḷng với nó, bác cũng đoán được phần nào.  Vậy, việc ǵ nó làm th́ cứ làm, bác không cản, miễn là nó chịu cưới vợ cho bác.  Hai cháu là bạn nó, hai cháu ráng khuyên bảo nó."

            Chúng tôi đồng nói:
           
"Chuyện vợ con của anh Huy là do bác định, chúng cháu chỉ là bạn của ảnh
[2] thôi, đâu dám can dự vào."
           
Bác tiếp:
            "Bác có biểu nó nhiều lần, nhưng nó không nghe.  Nó lại là con trai một, lại lớn tuổi rồi, cần phải cưới vợ để có người nối dơi tông đường.  Hai cháu là bạn thân của nó, các cháu nói, nó nghe.  Hai cháu chọn ai cũng được, miễn nó bằng ḷng là bác vui rồi. Một khi bác có cháu nội để ẳm rồi th́ nó làm ǵ cứ làm, bác không cần biết tới.  Vậy bác nhờ hai cháu lo việc cưới vợ sớm cho nó, sớm ngày nào bác mừng ngày đó."

            Rồi bác dịu dàng day sang anh Huy:
            "Con đă lớn tuổi rồi, cũng cần có vợ cho má được yên ḷng.  Nam nay, má đă yếu, cũng cần có cháu nội để bồng, an ủi tuổi già.  Con ráng nghe lời má để cháu Mười, cháu Nghĩa chọn người cưới vợ cho con."

Vậy là kể từ tháng 4/1949, anh Mười và tôi đă được bác khoán trắng việc cưới vợ cho anh Huy.  Tuy là được khoán trắng, nhưng công việc không phải dễ dàng ǵ.  V́ phải qua hai bước: một là thuyết phục anh Huy bằng ḷng; hai là chọn người hiền thục đảm đang.  Cả hai đều khó, nhưng việc thuyết phục anh Huy tương đối dễ dàng hơn.

 Lúc bấy giờ tuy đă 25 tuổi, nhưng anh Huy không biết yêu đương là ǵ.  Không ai thấy anh để ư đến một người đẹp nào, cũng không hề thấy anh nói đến chuyện yêu đương.  V́ đó, trong bài thơ "Gởi Ba Xạo", tôi đă viết:

            Anh là kẻ khác thường trong thiên hạ,
           
Khinh gia đ́nh, bất chấp cả thế nhân,
    Không t́nh yêu, xem rẻ bọn thoa quần.

Chữ khinh ở đây có nghĩa là nhẹ, xem nhẹ, chớ không phải khinh rẻ.  Anh rất có hiếu với với mẹ và thương chị thương em nhiều; vậy mà trong nhiều năm liền, anh chỉ về thăm gia đ́nh có một lần mặc dầu từ Saigon lên Biên Ḥa chỉ cách nhau có 30 cây số. Lần đó là lần anh đưa anh Mười và tôi về nhà để giới thiệu chúng tôi với bác và gia đ́nh anh.  Lúc đó anh bận bao nhiêu công việc, nào soạn tài liệu học tập, nào huấn luyện anh em, nào viết báo nội bộ, nào đảm trách hai tờ báo Đuốc Việt và Thanh Niên, nên không bao giờ hở tay để có rảnh về thăm gia đ́nh.  C̣n bất chấp cả thế nhân là anh không màng tới dư luận khen chê.  Vào tuổi thanh niên như anh, ai cũng thích an mặc chải chuốt, c̣n anh th́ quanh năm chỉ có đôi sandales quèn, quần sọt kaki và áo sơ mi tay ngắn không bao giờ ủi.  Những ai biết anh vào những năm 1945-1955 th́ đều nhớ đến h́nh dáng một thanh niên gầy c̣m, chưa đến 40 kí, quần áo lôi thôi, tóc tai không chải, đi lọm khọm (v́ lưng anh c̣m) trên các vĩa hè Saigon.  Anh chỉ sống về nội tâm nên không màng đến dáng vẻ bên ngoài.  Anh Đặng Văn Cầu mỗi lần nhắc đến anh đều vui vẻ ngâm:

Một giống người nhỏ bé nhưng tinh anh.

Đó là câu thơ anh làm trong bài thơ Dân tộc Việt Nam .  

Không t́nh yêu, xem rẻ bọn thoa quần là điều mà anh em đều biết rơ từ nhiều năm qua, không ai c̣n lạ nữa.  Và chính những điều lôi thôi, khác thường nầy, đă khiến anh em lúc bấy giờ mến và thương anh nhiều.

Nhận lời bác xong, chúng tôi đến gặp anh Lê Văn Hiệp.  Trong đoàn thể chúng tôi, lúc bấy ǵờ có bốn người quan trọng: Anh Cả, anh Hoàn, anh Hiệp và anh Huy.  Anh Cả (Lê Quốc Hưng), Chủ Tịch Xứ Bộ, là người cao niên phúc hậu, gây được nhiều sự yêu thương đoàn kết trong anh em.  Anh Hoàn (Nguyễn Tôn Hoàn) là người chơn thành, nhiệt huyết, đảm trách ngoại giao không ai bằng.  Anh Hiệp, lịch duyệt tâm lư.  Anh Huy thông minh, quảng bác, cần cù; chuyên về tuyên huấn.  Bốn anh đều cần thiết, nhưng quan trọng nhứt là anh Hiệp và anh Huy, v́ hai anh đó không có không được.

Khi biết được anh Huy sắp cưới vợ, anh Hiệp suy nghĩ rất nhiều.  Một lúc sau anh mới thở dài, nói:

"Ai cưới vợ cũng không sao, nhưng anh Huy th́ cần phải chọn kỹ, v́ ảnh sẽ là đầu năo của Đảng ta sau nầy.  Người vợ lại có ảnh hưởng rất lớn với chồng, v́ bạn bè th́ ở xa, lâu lâu mới gặp nhau, c̣n vợ th́ một bên, đêm nào cũng thủ thỉ bên tai, nên lúc đầu th́ gạt ngang, nhưng lâu dần rồi cũng phải nghe.  Các chú thấy Triệu Khuông Dăn và Trịnh Ân thân nhau như thế nào, chết sống với nhau như vậy, thế mà Hàn Tố Mai nói riết, Triệu Khuông Dẫn cũng phải chém đầu Trịnh Ân.  Việc vợ ảnh hưởng đến chồng như vậy, nên khi t́m vợ cho già Ba [3] các chú nên cẩn thận..."

Nhận được lời khuyên của anh Hiệp rồi, chúng tôi mới bàn chuyện cưới vợ với anh Huy. Anh biết sớm muộn ǵ cũng phải lập gia đ́nh, không thể nào thối thoát được, nên không từ chối.  Nhưng anh đă đưa ra  3 điều kiện tiên quyết  sau đây:

(1)    Vui ḷng chấp nhận cho chồng tiếp tục hoạt động, không can ngăn hay xen vào công việc.

(2)    Không được phê b́nh hay lời ra tiếng vào về bạn bè của chồng.

(3)    Chấp nhận sống nghèo, làm người vợ đảm đang, nuôi con giúp chồng như bà Phan Bội Châu.

Ai nhận đủ 3 điều kiện nầy, anh mới cưới, bằng không th́ thôi. Điều kiện (1) và (3) đều dễ hiểu, v́ dầu anh không nêu ra, chúng tôi cũng chọn theo các tiêu chuẩn đó, nhưng c̣n điều kiện (2) th́ lạ quá, chúng tôi chưa hề nghĩ đến, nên hỏi lại anh:

            "Sao lại có điều kiện về bạn bè của chồng? Có cần thiết phải nêu ra không?"

Anh nói:
"Cần lắm, nhứt là đối với những người tranh đấu như anh em chúng ḿnh."

            Rồi anh cười, hỏi lại chúng tôi:
            "Đọc truyên Thuyết Đường, các anh có nhớ đoạn Tần Thúc Bảo cùng bạn bè làm
phản Sơn Đông không?  Lúc giải thoát được anh em và đưa lên Ngỏa Cang Trại, Từ Mậu Công sợ triều đ́nh sát hại vợ con các anh em làm phản, nên ra lệnh mọi người chia nhau đi rước gia đ́nh các anh em này đưa lên sơn trại.  Vợ con anh em đều đến đông đủ, chỉ có vợ con Đơn Hùng Tín là bị bỏ sót nên tất cả dều bị sát hại.  Các anh có biết tại sao không?"

            Chúng tôi đều có đọc đoạn này, nhưng không có ai lưu ư đến chuyện vợ con Đơn Hùng Tín bị sát hại.  V́ đó, khi bị anh Huy hỏi, chúng tôi đều ngẩn ngơ, không ai trả lời được.  Anh Huy cười, nói tiếp:

            "Theo tôi nghĩ là như thế này: Lúc bấy giờ, tất cả đều nghèo, chỉ có Đơn Hùng Tín là giàu có, v́ y ăn cướp chúa, ngồi không chia của. Đơn Hùng Tín là người hào sảng, thường giúp đỡ anh em.  Lúc nào. trong nhà cũng chấp chứa nhiều người, ai đau ốm hay cần tiêu xài ǵ, dầu tốn hao bao nhiêu, y cũng không tiếc.  Nhưng vợ con y lại nóng mặt, tiếc của, nên thường hay nói xéo anh em, hoặc lúc Đơn Hùng Tín vắng mặt, th́ nặng lời mắng mỏ.  V́ đó, anh em đều phiền ḷng, nhưng không dám nói ra. Kịp khi được lệnh Từ Mậu Công, anh em làm bộ quên không thèm rước cho bơ ghét.  Vậy là chỉ có riêng vợ con Đơn Hùng Tín bị giết hại."

            Chúng tôi đều cười:
            "V́ lẽ đó mà anh đưa ra điều kiện không được lời ra tiếng vào với bạn bè của anh?

            Anh cũng cười:
            "Vợ con là t́nh riêng, anh em là nghĩa chung, cùng trải gian lao nguy hiểm suốt đời với nhau.  Không thể v́ người đàn bà mà làm hư nghĩa lớn.  Biết bao người tài ba, chí lớn, chỉ v́ nghe lời người đàn bà ma hư cả cuộc đời. Vậy nên pḥng trước là hơn."

            Được anh Huy chấp nhận, chúng tôi bắt đầu t́m người.  Trước hết duyệt qua các chị em trong đoàn thể.  Không ai được cả, v́ người được điểm này th́ thiếu điều kia, c̣n người vừa ư th́ đă có chủ rồi.  T́m ở người ngoài th́ khó quá, v́ đâu gần ai nhiều để điều tra cho kỹ được.

oOo

            Lúc bấy giờ, gần phố chúng tôi ở có một gia đ́nh công chức khá cao cấp. Ông có người con gái trên dưới 20, chải chuốt, đẹp, vẻ đẹp thùy mị, nghiêm trang.  Nghe đâu cô đă đậu bằng Thành Chung và đang học khóa nữ hộ sinh (Sage femme d'Etat) ở bệnh viện Từ Dũ.  Tuy ở gần chúng tôi --một "ổ" gần cả chục thanh niên chưa vợ-- mà không bao giờ cô nh́n hoặc để ư đến chúng tôi.  Lúc ra đi cũng như lúc về nhà, cô đều đi đứng khoan thai, nh́n thẳng, không hề ngó qua liếc lại, khiến anh em chúng tôi đều nể nang, không ai dám sàm sỡ.  Hơn một năm như vậy.

            Một hôm vào khoảng giữa năm 1950, có một cô gái lạ đến hỏi thăm anh Mười.  Cô tự xưng là Dương Thị Thu, từ Sóc Trăng lên, thay mặt gia đ́nh đến cám ơn anh đă giúp đỡ em cô, Dương Thanh Quang, trong những ngày đầu em lên Saigon để theo học Trường Trung Học Petrus Kư. Nguyên em Quang là em ruột của vị hôn thê anh Hải, một đồng chí trẻ của chúng tôi. Mấy năm trước, anh Hải được đoàn thể đưa vào chiến khu, anh viết thơ lên nhờ anh em chúng tôi giúp đỡ em Quang trong những ngày đầu em mới lên Saigon .  V́ đó, anh em chúng tôi đă tận t́nh giúp em, từ ghi tên nhập học đến t́m nhà trọ gần trường, mua sắm học cụ, đến đưa đi viếng các cảnh ở Saigon . Có lẽ em Quang đă viết thơ về gia đ́nh kể hết sự tử tế của chúng tôi, nên gia đ́nh mới nhờ chị Thu đến cám ơn chúng tôi.  Sau khi đă biết nhau, đôi bên đều hết ngỡ ngàng, nên chuyện tṛ thân mật.

            Anh Mười hỏi thăm về bác, gia đ́nh và anh Hải.  Chị Thu cho biết bác vẫn mạnh, gia đ́nh b́nh yên, c̣n anh Hải th́ bị "chúng nó" phát hiện nên đă bị đày ra Ḥn Củ Tron ngoài vịnh Thái Lan rồi.  Anh Mười cười:

            "C̣n chị th́ sao? C̣n là Phụ Nữ Dân Chủ hay đă vào Phụ Nữ Cứu Quốc?"

            Chị Thu cũng cười:
            "Các anh theo sát t́nh h́nh quá.  Em vẫn c̣n là Phụ Nữ Dân Chủ.  Chỉ có những người cực đoan, ít học, mới vào Phụ Nữ Cứu Quốc.  Phần lớn những người ôn ḥa có học  đều vào Thanh Niên hoặc Phụ Nữ Dân Chủ hết."

            Rồi chị thở dài, bùi ngùi nói tiếp:
            "Nhưng chắc không lâu đâu.  Cộng sản đang thành lập đảng Lao Động, có lẽ nay may sẽ cho ra mắt.  Từ đầu năm nay, họ ép Đảng Dân Chủ phải giải tán để sáp nhập vào đảng Lao Động."

            Anh Mười hỏi:
            "Các anh trong ấy có bằng ḷng không?"

            Chị Thu nói:
            "Chỉ có một số ít bằng ḷng, c̣n đại đa số th́ chống lại.  Nội t́nh đảng Dân Chủ lúc nầy rối ren lắm.  Nhưng có chống cũng không nổi, v́ Cộng Sản mạnh thế hơn nhiều.  Chắc thế nào rồi đây đảng Dân Chủ cũng phải giải tán.  Em buồn qúa nên đă xin phép các anh ấy lên Saigon học tiếp."

            Anh Mười hỏi:
            "Chị định học ǵ?"

            Chị Thu đáp:
            "Học khóa nữ hộ sinh quốc gia ở bệnh viện Từ Dũ.  Em đă thi đậu rồi, nay mai sẽ vào học. Hôm nay rảnh nên lại thăm để cám ơn các anh."

            Nghe nói chị học khóa nữ hộ sinh quốc gia, chúng tôi chợt nhớ đến "cô láng giềng" nên chụp ngay:
            "Chừng vào học, chị nhớ điều tra cô... giùm chúng tôi, nhứt là về lối sống và tánh t́nh cô ta..."
            -  Chi vậy các anh?

Anh Mười ngần ngừ một lúc rồi thành thật nói:
"Để cưới cho anh Huy."

                  -  Anh Huy nào? Có phải người mà anh Hải thường khen là giỏi và sống gương  mẫu đó không?"

            Chúng tôi nói:
"Chị cũng biết nữa à? Chính anh Huy đó! Ảnh là thầy chúng tôi đó, mà cũng là
 trụ cột của đoàn thể chúng tôi nữa."

            Chị Thu tiếp:
            "Anh Hải giỏi, ít chịu phục ai, mà khen anh Huy nức nở, như vậy th́ hẳn anh Huy phải giỏi lắm.  Nhưng anh Hải cũng nói anh Huy là con người đặc biệt, không hề để ư tới đàn bà, sao nay lại cưới vợ?"

            Chúng tôi nói:
            "Anh không chịu cưới nên bác --má ảnh-- mới nhờ chúng tôi t́m vợ cho ảnh. Cô... chỉ ở cách nhà chúng tôi vài căn thôi, nhưng chúng tôi không có cơ hội sống gần để biết rơ tánh t́nh của cổ [4].  Vậy nhờ chị điều tra kỹ giùm chúng tôi, nhứt là về tánh t́nh, để chị Huy sau nầy sẽ là một người vợ hiền, giúp chồng coi sóc mọi việc trong gia đ́nh."

            Chúng tôi nhắc với chị Thu 3 điều kiện của anh Huy đặt ra, rồi nói tiếp:
            "Chị thấy đó, người vợ của anh Huy phải là người đảm đang, chịu khó như bà Phan Bội Châu, để ảnh có thể yên tâm mà lo việc nước."

            Chị Thu trầm ngâm một lúc rồi nói:
            "Thời buổi nầy t́m cho được một người đàn bà như vậy thật là khó. Nhưng tôi cũng ráng t́m cho các anh."

            Nhơn t́m thấy tập thơ Hồn Việt để trên bàn, chị cầm lấy, hờ hững đọc.  Nhưng đuợc mấy câu, chị, ngồi ngay ngắn lại, chăm chú đọc tiếp, hết trang nầy đến trang khác, rất say mê.  Anh Mười nói:
            "Thơ của anh Huy đó. Đằng Phương là ảnh, mà Ba Xạo, Hùng Nguyên cũng là ảnh. Ảnh có nhiều bút hiệu lắm.  Nếu chị thích, cứ lấy về mà đọc, chúng tôi tặng chị đó.  Nếu chị cần thêm để biếu chị em, cứ cho biết; chúng tôi sẽ tặng thêm cho chị."

            Chị Thu nói:
            "Nghe anh Hải nói th́ anh Huy c̣n trẻ lắm, cũng trạc tuổi các anh thôi, nhưng sao giọng thơ lại già dặn trang nghiêm như vậy?"

            Tôi đáp:
            "Ảnh nhỏ hơn tôi một tuổi, nhưng mặt th́ trẻ hơn nhiều.  Nếu chị muốn biết ảnh th́ hôm nào rảnh, chị đến thơ viện cho mượn sách (bibliothèque de prêt) trên lầu Toà Đô Chánh th́ thấy ảnh.  Thơ viện lúc này dời về đó và chị thấy người nào gầy gầy trẻ, áo quần lôi thôi, ngồi tại bàn cho mượn sách là ảnh đó."

            Vài tuần sau, chị Thu trở lại, xin thêm vài quyển thơ Hồn Việt, đồng thời nói với chúng tôi:
            "Tôi đă biết mặt anh Huy rồi. Ảnh trẻ như học sinh, chớ không phải sinh viên hay công chức.  Tôi không ngờ ảnh cũng biết chị em chúng tôi..."

            Anh Muời cắt ngang:
            "Sao? Anh Huy cũng biết chị à? Và các bạn chị nữa? Không phải đâu! Ảnh làm sao biết chị được?"

            Chị Thu nói:
            "Ảnh biết thật mà! Hôm tôi đem quyển thơ anh Huy về, các bạn tôi mượn đọc và thích lắm, hỏi bán ở đâu để đi mua.  Tôi nói xin anh để tặng mỗi người một quyển.  Mấy chị tưởng Đằng Phương già lắm, ít nhứt cũng 4-5 mươi tuổi..."

            Chúng tôi cười:
            "Sao lại tưởng anh ấy già?"

                  - V́ giọng thơ già dặn lắm.  Phải là người đă lớn tuổi mới có những lời thơ hùng hồn đứng đắn như vậy.  Những người trẻ tuổi chỉ đặt thơ t́nh tự yêu đương thôi.  Chừng biết ảnh c̣n rất trẻ và đang làm ở thơ viện, các chị đốc tôi đi mượn sách để sẵn dịp biết mặt Đằng Phương.

- Nhưng sao các chị biết anh Huy biết các chị?

                  - Hôm ấy, ba chị em chúng tôi -- v́ chúng tôi đi mượn sách thường đi chung ba người với nhau --  đến thơ viện trên lầu Toà Đô Chánh, chưa kịp nói tên ḿnh th́ anh Huy đă lấy ba cái thẻ (fiches) của mấy chị em tôi để trên bàn để ghi sách mượn vào thẻ.  Nếu anh Huy không biết chúng tôi, th́ làm sao ảnh rút sẵn thẻ của chúng tôi để ghi tên sách? 

             Chúng tôi thấy lạ quá nên mấy ngày sau, gặp lại anh Huy, chúng tôi hỏi th́ anh cười nói:
 "Có ǵ lạ đâu? Những người đến mượn sách, nếu ai có nét ǵ đặc biệt th́ chỉ đến một lần là tôi nhớ mặt mày tên tuổi ngay.  Ai không có ǵ đặc biệt th́ đôi ba lần, tôi cũng nhớ.  Cô Thu lúc nào cũng đi chung với hai bạn, lại mượn sách rất thường th́ tôi càng dễ nhớ nữa."

             Mà thật anh Huy có trí nhớ phi thường.  Những ǵ thoáng qua mặt anh th́ anh nhớ ngay, và nhớ rất lâu.  Ai đă từng sống gần anh đều biết rơ điều này.  Anh Hiệp là người không biết phục ai.  Vậy mà đối với anh Huy, ảnh nh́n nhận "thằng cha ấy cực kỳ thông minh.  Không học th́ thôi, bằng học ai và khi học xong rồi th́ giỏi hơn thầy ngay.  C̣n về trí nhớ, th́ về địa dư, giă [5] thua tôi."  Anh Huy cũng nh́n nhận trí nhớ về địa dư của ảnh kém hơn anh Hiệp.

oOo  

            Vào tết năm Măo (1955), chị Thu đến thăm chúng tôi và nhơn tiện, chúc Tết luôn.  Sau vài ba câu chuyện, anh Mười hỏi:
            "Về cô láng giềng của chúng tôi, chị ḍ hỏi đến đâu rồi?  Liệu có được không chị?

            Chị Thu cố đánh trống lảng, nói sang chuyện khác.  Nhưng anh Mười không nghe, lặp lại câu hỏi, cố ư bắt chị phải trả lời.  Chị do dự một lúc lâu rồi mới nói:
            "Nếu cưới cho ai th́ dược, nhưng cho anh Huy th́ không."

            Chúng tôi hỏi:
            "Sao vậy chị?"

            Chị Thu lại ngần ngừ nữa, nhưng rồi biết không thể tránh né được, chị đành thú thật:
            "Đáng lẽ tôi không nên nói những lời này, v́ nói những lời không hay về bạn mà không có mặt chị ấy ở đây, kể như tôi nói xấu vậy.  Nhưng v́ việc này quan trọng cho các anh quá, tôi không thể không nói thẳng sự thật cho các anh biết."

            Ngừng một lát như t́m lời, chị nói tiếp:
            "Anh Huy cần một người vợ hiền đảm đang, biết thay thế chồng nuôi con, đảm trách mọi việc trong gia đ́nh, lại c̣n phải biết vui vẻ, tử tế với tất cả bạn bè của chồng nữa.  Nhưng cô bạn của tôi lại thích trang diện se sua, không chịu sống ḥa nhập với các chị em trong trường.  Chị có thể làm vợ tốt cho một công chức cao cấp hay một giám đốc công ty nào đó có kẻ ăn người ở hầu hạ, chớ không thể làm vợ tần tảo đảm đang như bà Phan Bội Châu được."

            Nghe chị Thu nói xong, chúng tôi hoàn toàn hụt hẫng.  Từ hơn một năm qua, chúng tôi đặt trọn hi vọng vào cô láng giềng, nên không t́m ai nữa hết.  Bấy giờ, bao nhiêu hy vọng đă tiêu tan, chúng tôi phải làm lại từ đầu.  Nghĩa là t́m một người khác, rồi phải điều tra, nhờ cậy.... Trong lúc đó th́ từ hơn một năm qua, má anh Huy cứ hỏi thăm và thúc hối anh em tôi măi.

            Anh Mười hoàn toàn thất vọng, nỗi thất vọng hiện rơ ra mặt. Anh có tánh vui rất mau mà buồn cũng rất lẹ, thay đổi rất nhanh, nên  "già" Hiệp gọi anh là "thermomètre à alcool" nghĩa là con người vui buồn thay đổi nhanh như cái hàn thử biểu bằng alcool vậy. Anh ngồi tựa lưng vào ghế, ngửa mặt nh́n lên không, thở dài.  Tôi nh́n theo lưng chị Thu càng lúc càng xạ  Bỗng một ư nghĩ nhanh như điện chớp qua đầu tôi.  Tôi vỗ tay mạnh xuống bàn, nói to:
            "Sao có sẵn người trước mắt mà không chọn, lại đi t́m đâu xa?"

TIẾP THEO PHẦN 2

         

[1] "Ba Huy", tức Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Huy, nguyên Giáo Sư HVQGHC, một học giả, một lănh tụ chính trị nổi tiếng. Ông mất ngày 28/7/1990. Đây là bài viết được tác giả đọc nhân ngày giỗ thứ  8 (1998) của GS Huy "nhắc kỷ nệm về cố đồng chí Hùng Nguyên."  Để bày tỏ ḷng ngưỡng mộ đối với cố GS Huy, cùng sự biết ơn tác giả, HCMĐ xin đăng nguyên văn bài viết của tác giả Hoài Sơn Ung Ngọc Nghĩa.
HCMĐ cũng xin cám ơn nhà thơ Dương Quân, người đă tiếp xúc với tác giả, xin bản thảo bài này và dành cho tờ báo được phép đánh máy lại để đăng ưu tiên, trước khi phổ biến bằng các phương tiện truyền thông khác.

[2] "ảnh": văn nói miền Nam , có lẽ do 2 tiếng "anh ấy" phát âm nhanh mà thành ra  (BBT)

[3] Tiếng thân mật để gọi anh Huy (TG)

[4] "cổ" : văn nói miền Nam , có lẽ do 2 tiếng "cô ấy" khi phát âm nhanh mà thà nh ra (BBT)

[5] "Giă" là "già đó", tiếng thân mật dùng để chỉ anh Huy (TG)

Uploaded: Dec 12th, 2005